U-Care: Khi chăm sóc sức khỏe tinh thần trở thành một phần của giáo dục

Không chờ đến khi sinh viên gặp khủng hoảng mới tìm cách hỗ trợ, “Mô hình U – care 3 tầng chăm sóc sức khỏe tinh thần cho sinh viên dựa trên nền tảng nhân bản và khai phóng” của nhóm giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN bắt đầu từ một cách tiếp cận khác: giúp người học hiểu mình, biết chăm sóc bản thân, nhận diện sớm những khó khăn và tìm kiếm sự trợ giúp khi cần. Từ lớp học, những không gian trải nghiệm, mạng lưới đồng hành đến tham vấn chuyên sâu, các hoạt động được kết nối thành một hệ thống hỗ trợ người học chủ động và đa tầng.
Được hình thành từ hành trình nhiều năm đồng hành cùng người học, U-Care hướng tới việc đưa chăm sóc sức khỏe tinh thần trở thành một phần của quá trình giáo dục. Từ tháng 11/2020 đến tháng 12/2025, các chuyên gia tâm lý của Khoa đã tham vấn cho 308 học sinh, sinh viên với hơn 600 phiên tham vấn.
Nhưng những con số ấy chỉ phản ánh một phần của U-Care. Điều nhóm giảng viên hướng tới sâu xa hơn là giúp người học từng bước hình thành năng lực tự chăm sóc và nội lực để ứng phó với những khó khăn, biến động trong cuộc sống. Mô hình đã được ghi nhận tại Giải thưởng “Nhà giáo đổi mới sáng tạo ĐHQGHN năm 2025”.
Bản tin ĐHQGHN đã trao đổi với nhóm tác giả về hành trình hình thành U-Care và một câu hỏi rộng hơn phía sau mô hình: một trường đại học có thể làm gì để người học không chỉ được trang bị tri thức mà còn có đủ nội lực để đi qua những giai đoạn khó khăn của cuộc sống?
![]() |
– Điều gì từ thực tế đời sống của sinh viên khiến các cô nghĩ rằng cần có một mô hình chăm sóc sức khỏe tinh thần mang tính hệ thống?
TS. Nguyễn Thị Phương: Với tôi, điều đó trước hết đến từ những trải nghiệm rất gần với đời sống. Bản thân tôi từng trải qua những giai đoạn khó khăn về tinh thần và nhận được sự giúp đỡ để đi qua những thời điểm ấy. Khi trở thành giảng viên, qua những chia sẻ của sinh viên về khó khăn, nhu cầu và mong muốn được giúp đỡ, tôi càng cảm nhận rõ rằng một sự hỗ trợ phù hợp, đúng lúc có thể giúp các em học tập tốt hơn, sống tốt hơn và tiếp tục phát triển. Cùng với sự quan tâm của Trường Đại học Ngoại ngữ đối với đời sống tinh thần của sinh viên, những trải nghiệm đó trở thành một trong những động lực để chúng tôi xây dựng U-Care.
![]() |
Có một thời điểm khiến tôi đặc biệt nhớ, đó là khi dịch Covid-19 xảy ra. Sinh viên phải chuyển sang học trực tuyến trong khi đây lại là lứa tuổi có nhu cầu giao tiếp và kết nối xã hội rất lớn. Chúng tôi tự hỏi: trong một hoàn cảnh mà những tương tác vốn quen thuộc bị thu hẹp, mình có thể làm gì để giúp sinh viên duy trì một đời sống tinh thần tích cực?
Từ câu hỏi đó, chương trình Good Habit – Better Life được tổ chức với thử thách thực hiện những điều tích cực trong 14 ngày. Gần 1.000 sinh viên cam kết tham gia. Với chúng tôi, đó cũng là một trải nghiệm cho thấy sinh viên không chỉ cần hỗ trợ khi đã rơi vào khó khăn; các em có nhu cầu được trang bị những cách thức để chủ động chăm sóc đời sống tinh thần của mình.
– Như vậy, có thể hiểu U-Care bắt đầu từ sự thay đổi trong cách nhìn về chăm sóc sức khỏe tinh thần?
TS. Đào Thị Diệu Linh: Đúng vậy. Điểm đổi mới cốt lõi của U-Care là chuyển từ những hoạt động hỗ trợ riêng lẻ sang một hệ thống hỗ trợ chủ động, đa tầng và có sự liên thông, thay vì chỉ bắt đầu can thiệp khi sinh viên đã xuất hiện khó khăn.
Chúng tôi thiết kế U-Care theo ba tầng. Tầng 1 – Phổ cập hướng tới số đông sinh viên, tập trung vào giáo dục, nâng cao nhận thức và hình thành năng lực tự chăm sóc sức khỏe tinh thần. Những nội dung này không chỉ xuất hiện trong các tọa đàm, workshop, cuộc thi hay hoạt động trải nghiệm mà còn được lồng ghép vào một số học phần trong chương trình đào tạo. Nhờ đó, chăm sóc sức khỏe tinh thần không phải là một hoạt động đứng bên ngoài quá trình giáo dục mà từng bước trở thành một phần trong trải nghiệm học tập của sinh viên.
![]() |
Tầng 2 – Đồng hành và phát hiện sớm tập trung vào sàng lọc, hỗ trợ đồng đẳng và phát huy vai trò của giảng viên chủ nhiệm, cố vấn học tập cùng những người gần gũi với sinh viên để nhận diện sớm các dấu hiệu cần được hỗ trợ. Tầng 3 – Chuyên sâu dành cho những trường hợp cần tham vấn tâm lý 1-1 và kết nối, chuyển tuyến tới các cơ sở chuyên môn khi cần thiết.
Điều quan trọng là ba tầng không tồn tại như những hoạt động độc lập mà được kết nối thành một quá trình hỗ trợ liên tục: từ hiểu đúng về sức khỏe tinh thần, biết chăm sóc bản thân, được phát hiện và hỗ trợ sớm đến có một điểm tựa chuyên môn an toàn khi cần hỗ trợ sâu hơn.
Sự liên thông ấy giúp U-Care vừa mở rộng khả năng tiếp cận tới số đông, vừa bảo đảm những sinh viên cần hỗ trợ sâu hơn không bị bỏ lại phía sau. Quan trọng hơn, người học không chỉ là đối tượng nhận hỗ trợ mà từng bước trở thành chủ thể trong việc chăm sóc sức khỏe tinh thần của chính mình.
PGS.TS Hà Lê Kim Anh – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN cho rằng, giáo dục đại học không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng mà còn cần quan tâm đến sự phát triển toàn diện của người học, trong đó sức khỏe tinh thần là một yếu tố quan trọng. U-Care tiếp nối những nỗ lực mà Nhà trường đã triển khai trong nhiều năm qua về tư vấn, hỗ trợ và phát triển cá nhân, đồng thời giúp các hoạt động này được kết nối một cách hệ thống hơn. Trường Đại học Ngoại ngữ kỳ vọng mô hình sẽ góp phần tạo dựng môi trường giáo dục nơi sinh viên được quan tâm, lắng nghe và tiếp cận sự hỗ trợ khi cần; đồng thời từng bước mở rộng các hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần tới cán bộ, giảng viên. |
![]() |
– Trong mô hình này, vì sao nhóm lại đặt giáo dục và các học phần ở ngay tầng đầu tiên của chăm sóc sức khỏe tinh thần?
TS. Tạ Nhật Ánh: Bởi chúng tôi không muốn sinh viên chỉ biết đến sức khỏe tinh thần khi các em gặp vấn đề. Những học phần như Tâm lý học đại cương (dành cho sinh viên ngành ngôn ngữ), Tâm lý học (dành cho sinh viên ngành sự phạm), Thiết kế cuộc đời, Trí tuệ cảm xúc và giao tiếp xã hội… tạo ra những không gian để sinh viên nhìn lại chính mình: mình đang cảm thấy gì, điều gì thực sự quan trọng với mình, mình đang phản ứng thế nào trước áp lực, mình muốn xây dựng cuộc sống ra sao?
Giá trị của U-Care vì thế không chỉ nằm ở những buổi tham vấn hay tọa đàm. Nó còn nằm trong những tương tác rất bình thường của lớp học, khi sinh viên có cơ hội nghiêm túc nhìn vào bản thân, học cách hiểu mình, điều chỉnh cảm xúc và từng bước xây dựng nội lực. Theo tôi, những thay đổi ấy cho thấy chăm sóc sức khỏe tinh thần có thể bắt đầu ngay trong quá trình học tập, khi sinh viên được tạo cơ hội để hiểu mình, điều chỉnh cảm xúc và xây dựng nội lực.
![]() |
| Sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ tham gia hoạt động nhóm trong giờ học Tâm lý học đại cương |
Những chiêm nghiệm của sinh viên sau các học phần cũng cho thấy sự thay đổi ấy. Có sinh viên nhận ra rằng cân bằng không có nghĩa là chia đều thời gian, mà là biết dành thời gian cho điều thực sự quan trọng; có em nhận ra trong lúc cố gắng “tăng tốc” để không bị bỏ lại phía sau, mình lại có thể đang bỏ quên chính mình. Đó là những thay đổi khó đo chỉ bằng điểm số.
Khi một người trẻ bắt đầu biết dừng lại để nhận diện cảm xúc, biết lắng nghe nhu cầu của bản thân, biết rằng mình có quyền tìm kiếm sự hỗ trợ và đồng thời có khả năng đồng hành với người khác, đó cũng là lúc giáo dục đi xa hơn việc truyền đạt kiến thức.
– “Nhân bản và khai phóng” được đặt ngay trong tên gọi của U-Care. Hai yếu tố này được thể hiện như thế nào trong thực tế?
TS. Đào Thị Diệu Linh: Với chúng tôi, nền tảng nhân bản trước hết là nhìn người học như một con người toàn diện, với những khác biệt, cảm xúc, lựa chọn và những câu chuyện riêng cần được tôn trọng. Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần, điều đó thể hiện ở việc lấy sinh viên làm trung tâm, tôn trọng sự tự chủ, sự đa dạng và tính bảo mật. Còn tinh thần khai phóng hướng tới việc giúp người học không chỉ tiếp nhận kiến thức mà phát triển khả năng tự nhận thức, tư duy, phát huy được nội lực của bản thân, lựa chọn và chịu trách nhiệm với cuộc đời mình.
Vì thế, giá trị của U-Care không chỉ nằm ở việc xây dựng một hệ thống hỗ trợ sinh viên khi cần, mà quan trọng hơn là giúp các em từng bước hình thành năng lực tự chăm sóc. Qua quá trình giáo dục và đồng hành, sinh viên học cách nhận diện trạng thái của mình, chủ động tìm kiếm nguồn lực phù hợp và biết khi nào cần đến sự trợ giúp chuyên môn. Đó chính là năng lực tự chủ mà U-Care hướng tới.
– Ngoài những môn học về tâm lý học, các môn học thuộc tổ Giáo dục khai phóng có vai trò như thế nào trong mô hình U-Care?
TS. Nguyễn Thu Lệ Hằng: Các môn học Giáo dục khai phóng như Trí tuệ cảm xúc và Giao tiếp xã hội, Thiết kế cuộc đời, Tư duy sáng tạo khởi nghiệp, Giáo dục cách tân, Tư duy hình ảnh, được xây dựng với mục đích tạo ra không gian học thuật giúp người học phát triển tiềm năng và thế giới nội tâm, từ đó tăng cường năng lực thích ứng với những yêu cầu của thế giới ngoại cảnh về kết quả học tập, các mối quan hệ xã hội, hay đòi hỏi của nghề nghiệp trong tương lai. Các giảng viên của các môn học này cũng chính là mentor cho sinh viên trên hành trình phát triển đó, chúng tôi đồng hành cùng các em trong 15 tuần mỗi học phần, giúp sinh viên có được lối tư duy mở, năng lực thấu cảm và kết nối, sáng tạo và học tập suốt đời. Chúng tôi hướng đến tính nhân bản trong giáo dục.
![]() |
![]() |
– Sau nhiều năm triển khai, đâu là những tín hiệu khiến các cô cảm nhận rõ nhất U-Care đang thực sự chạm tới sinh viên?
TS. Đào Thị Diệu Linh: Trước hết là sự chủ động của các em.
Ở các hoạt động phòng ngừa, chúng tôi thấy sinh viên ngày càng ý thức rõ hơn về vai trò của việc hiểu và chăm sóc sức khỏe tinh thần. Chẳng hạn, tọa đàm gần đây với chủ đề “Nuôi dưỡng những điều tích cực” luôn duy trì khoảng 1.000 sinh viên tham gia trên Zoom trong hơn hai giờ.
Nhưng có lẽ điều khiến chúng tôi hạnh phúc hơn là những thay đổi sau quá trình tham vấn 1-1. Có những sinh viên sau khi được hỗ trợ đã vững vàng hơn, biết chăm sóc bản thân hơn; rồi chính các em lại chủ động hỗ trợ bạn bè, khuyên bạn tìm đến chuyên gia khi nhận thấy bạn cần giúp đỡ.
![]() |
Khi một sinh viên từng cần được hỗ trợ sau đó có thể nhận ra nhu cầu của người khác và trở thành một mắt xích kết nối bạn mình với hệ thống hỗ trợ, tôi nghĩ lúc đó giá trị của mô hình đã bắt đầu được lan tỏa trong cộng đồng. Những thay đổi mang tính cá nhân ấy đồng thời được đặt cạnh một hệ thống dữ liệu rộng hơn.
Năm 2025, Khoa Tâm lý – Giáo dục Khai phóng thực hiện đánh giá sàng lọc sức khỏe tinh thần đối với 4.160 sinh viên toàn trường, tập trung vào ba nhóm vấn đề gồm căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Kết quả khảo sát trở thành một nguồn thông tin để nhận diện nhu cầu và xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp hơn với sinh viên.
Điều đáng chú ý là chính sinh viên cũng đề xuất những hỗ trợ rất cụ thể: phương pháp học tập ở bậc đại học, quản lý thời gian và cân bằng cuộc sống; cách chuyển hóa cảm xúc, giảm suy nghĩ tiêu cực; những không gian an toàn để chia sẻ và lắng nghe; tư vấn tâm lý định kỳ, hỗ trợ cá nhân trực tiếp hoặc trực tuyến, nhất là đối với sinh viên xa nhà. Như vậy, sàng lọc không chỉ để xác định “ai đang có vấn đề”. Quan trọng hơn, nó giúp Nhà trường lắng nghe đời sống tinh thần của người học bằng dữ liệu, từ đó thiết kế những hỗ trợ sát hơn với nhu cầu thực tế.
Ở tầng chuyên sâu, riêng năm 2025, các chuyên gia tâm lý của Khoa đã hỗ trợ 57 trường hợp với hơn 100 phiên tham vấn, trong đó 10 trường hợp được chuyển tuyến tới bệnh viện hoặc trung tâm hỗ trợ chuyên sâu. Sau quá trình tham vấn, người học được lượng giá về khả năng kiểm soát cảm xúc, những thay đổi trong hành vi, suy nghĩ và mức độ hiểu rõ vấn đề của bản thân. Những con số cho thấy quy mô của hoạt động hỗ trợ, nhưng phía sau mỗi trường hợp là một người trẻ đã lựa chọn tìm kiếm sự trợ giúp và một hệ thống cần đủ an toàn, tin cậy để các em sẵn sàng tìm đến.
![]() |
– Nếu phải nói về giá trị lâu dài nhất mà U-Care muốn tạo ra, các cô sẽ nói về điều gì?
TS. Tạ Nhật Ánh: Tôi nghĩ đó là nội lực của người học. Một hệ thống hỗ trợ tốt không thể và cũng không nên giải quyết thay sinh viên tất cả những khó khăn trong cuộc sống. Điều quan trọng hơn là giúp các em có những năng lực để hiểu mình, biết điều chỉnh, biết tìm kiếm nguồn lực và có khả năng phục hồi khi gặp biến cố. Nếu những điều ấy dần trở thành một phần trong cách sinh viên sống và học tập thì chăm sóc sức khỏe tinh thần không còn là một hoạt động riêng biệt nữa. Nó trở thành một phần của văn hóa giáo dục.
![]() |
TS. Nguyễn Thị Phương: Từ trải nghiệm của bản thân và những câu chuyện sinh viên chia sẻ, tôi hiểu rằng đôi khi một sự giúp đỡ đúng thời điểm có thể tạo ra thay đổi rất lớn. Vì vậy, bên cạnh việc bồi đắp nội lực, điều chúng tôi mong muốn là sinh viên biết rằng khi gặp khó khăn, các em không phải tự xoay xở một mình; luôn có những con người, những nguồn lực và những con đường phù hợp để các em tìm đến.
– Sau Giải thưởng “Nhà giáo đổi mới sáng tạo ĐHQGHN năm 2025”, nhóm kỳ vọng U-Care sẽ được phát triển như thế nào?
TS. Đào Thị Diệu Linh: Chúng tôi biết rằng một số đơn vị trong ĐHQGHN đã triển khai chăm sóc sức khỏe tinh thần cho sinh viên theo những cách thức phù hợp với đặc thù riêng. Điều chúng tôi mong muốn là các đơn vị có thể tăng cường kết nối để từng bước tạo thành một hệ sinh thái hỗ trợ người học rộng hơn.
Mỗi trường có đối tượng sinh viên, nguồn lực và đặc điểm riêng, vì vậy không nhất thiết phải có một mô hình giống hệt nhau. Điều quan trọng là mỗi cơ sở giáo dục có một hệ thống chăm sóc sức khỏe tinh thần phù hợp với người học và điều kiện của mình. Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm đã tích lũy trong quá trình triển khai U-Care để nhiều sinh viên hơn có cơ hội tiếp cận những hỗ trợ cần thiết.
Thực tế, sự lan tỏa đã bắt đầu trong một vài năm gần đây. Khoa đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức tham vấn và hỗ trợ người học cho giáo viên chủ nhiệm của Học viện Báo chí và Tuyên truyền; trao đổi kinh nghiệm với Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội; Học viện Nông nghiệp Việt Nam và một số đơn vị khác. Đồng thời, chúng tôi đã làm việc và tiếp nhận sinh viên chuyên ngành tâm lý học của Đại học RMIT, Đại học Fulbright và một số đơn vị khác tới thực tập.
Nhưng khả năng nhân rộng của U-Care không nhất thiết nằm ở việc sao chép nguyên vẹn một mô hình. Quan trọng hơn là sự lan tỏa của một cách tiếp cận: chăm sóc sức khỏe tinh thần có thể bắt đầu từ rất sớm – từ một lớp học biết tôn trọng cảm xúc, một người thầy biết lắng nghe, một người bạn nhận ra tín hiệu cần giúp đỡ, hay một không gian đủ an toàn để người trẻ có thể nói rằng mình đang không ổn.
Khi đó, chăm sóc sức khỏe tinh thần không còn là công việc riêng của một phòng tham vấn (TS. Đào Thị Diệu Linh nhấn mạnh). Nó trở thành một phần của môi trường giáo dục – nơi người học không chỉ được chuẩn bị cho một nghề nghiệp, mà còn được bồi đắp nội lực để hiểu mình, lựa chọn, thích ứng và tiếp tục phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
![]() |
![]() |
![]() |
| Nhóm các giảng viên Khoa Tâm lý – Giáo dục khai phóng, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, tác giả của “Mô hình U – care 3 tầng chăm sóc sức khỏe tinh thần cho sinh viên dựa trên nền tảng nhân bản và khai phóng” được ghi nhận tại Giải thưởng “Nhà giáo đổi mới sáng tạo ĐHQGHN năm 2025” gồm: TS. Đào Thị Diệu Linh – Trưởng Khoa, Trưởng nhóm; TS. Tạ Nhật Ánh; TS. Nguyễn Thu Lệ Hằng; TS. Nguyễn Thị Thu Dung; TS. Nguyễn Thị Thắng; ThS. Nguyễn Thị Phương; ThS. Tạ Chí Thành. |
Sinh Vũ – Lan Anh/VNU Media




PGS.TS Hà Lê Kim Anh – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN cho rằng, giáo dục đại học không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng mà còn cần quan tâm đến sự phát triển toàn diện của người học, trong đó sức khỏe tinh thần là một yếu tố quan trọng. U-Care tiếp nối những nỗ lực mà Nhà trường đã triển khai trong nhiều năm qua về tư vấn, hỗ trợ và phát triển cá nhân, đồng thời giúp các hoạt động này được kết nối một cách hệ thống hơn. Trường Đại học Ngoại ngữ kỳ vọng mô hình sẽ góp phần tạo dựng môi trường giáo dục nơi sinh viên được quan tâm, lắng nghe và tiếp cận sự hỗ trợ khi cần; đồng thời từng bước mở rộng các hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần tới cán bộ, giảng viên.








